Hướng Dẫn Áp Dụng Thông Tư Số 16/2026/TT-BKHCN Trong Thừa Nhận Kết Quả Đánh Giá Sự Phù Hợp

Ngày 09/4/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 16/2026/TT-BKHCN quy định chi tiết việc ký kết và thực hiện các hiệp định, thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau cũng như cơ chế thừa nhận đơn phương kết quả đánh giá sự phù hợp. Văn bản này tập trung thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động thừa nhận giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế, qua đó tạo cơ sở thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại, giảm rào cản kỹ thuật và tăng tính tương thích trong thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp giữa các bên.

1. Ba cơ chế thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam

Thông tư số 16/2026/TT-BKHCN quy định rõ ba cơ chế thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam, tương ứng với các cấp độ và phạm vi quản lý khác nhau:

(1) Hiệp định thừa nhận lẫn nhau (Cấp quốc gia): Ký kết giữa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ theo khuôn khổ điều ước quốc tế. Hiệp định thừa nhận lẫn nhau hướng tới mục tiêu tháo gỡ rào cản kỹ thuật trong thương mại, tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa và dịch vụ, đồng thời bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

(2) Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (Cấp Bộ hoặc Tổ chức kỹ thuật): 

  • Đối với cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, thỏa thuận được ký kết nhằm phục vụ yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực cụ thể, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Quá trình đàm phán có sự phối hợp giữa Bộ chủ trì với Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Ngoại giao. 
  • Ở cấp tổ chức kỹ thuật, các tổ chức đánh giá sự phù hợp của Việt Nam được phép chủ động ký kết với các tổ chức quốc tế, khu vực hoặc nước ngoài trong phạm vi năng lực đã được công nhận hoặc chỉ định. Tuy nhiên, việc sử dụng kết quả đánh giá của đối tác nước ngoài phải đi kèm trách nhiệm tự thẩm định và tổ chức trong nước phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với kết luận cuối cùng của mình.

(3) Cơ chế thừa nhận đơn phương: Cơ chế cho phép cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức nước ngoài mà không cần dựa trên hiệp định hoặc thỏa thuận song phương, trên cơ sở bảo đảm tính khách quan, minh bạch và tương đương về năng lực kỹ thuật và các chứng chỉ công nhận quốc tế như GACI, APAC, do Bộ quản lý ngành quyết định trong phạm vi quản lý.

huong_dan_ap_dung_thong_tu_so_16_2026_tt_bkhcn

2. Quy định về ký kết, thực hiện hiệp định thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp

Các hiệp định MRA cấp quốc gia là công cụ mở đường cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế. Các Bộ, ngành quản lý lĩnh vực liên quan có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ để đề xuất ký kết dựa trên nhu cầu thực tế của nền kinh tế.

Theo quy định, việc đề xuất phải dựa trên các tiêu chí như: sự phù hợp với cam kết quốc tế; quy mô và tiềm năng thị trường (xuất nhập khẩu, tiêu thụ, thu hút đầu tư); năng lực hạ tầng kỹ thuật trong nước; đánh giá lợi ích và rủi ro; các rào cản kỹ thuật cần tháo gỡ và các yếu tố đặc thù của từng ngành.

Trong quá trình triển khai, cơ quan đề xuất phải tổ chức lựa chọn, thẩm định các tổ chức trong nước đủ điều kiện tham gia và đồng thời đánh giá năng lực các tổ chức do phía nước ngoài đề xuất để bảo đảm tính tương đương kỹ thuật. Một tổ công tác liên ngành được thành lập để điều phối thực hiện, kèm theo kế hoạch cụ thể về hạ tầng, nhân lực và tiến độ.

Thực tế cho thấy, năng lực hạ tầng kỹ thuật trong nước là yếu tố then chốt. Nếu năng lực không tương xứng với yêu cầu của MRA, hiệu quả thực thi sẽ bị hạn chế và khó tạo giá trị thực chất cho hoạt động xuất khẩu.

Asean

3. Hướng dẫn ký kết, thực hiện thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp

3.1. Nguyên tắc chung khi ký kết thỏa thuận thừa nhận

Việc ký kết thỏa thuận thừa nhận phải tuân thủ quy định của pháp luật, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của tổ chức thử nghiệm – chứng nhận. Đồng thời, cần bảo đảm tính khách quan, minh bạch, hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá sự phù hợp, tạo thuận lợi thương mại và bảo đảm lợi ích quốc gia.

Các tổ chức đánh giá sự phù hợp của Việt Nam chỉ được ký kết trong phạm vi đã được công nhận, chỉ định hoặc đăng ký, và phải chịu trách nhiệm đầy đủ trước pháp luật cũng như cơ quan quản lý về việc thực hiện thỏa thuận.

Phúc Gia Và KTR

3.2. Ký kết thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau ở cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Ở cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc cơ quan thuộc Chính phủ đóng vai trò chủ trì đề xuất ký kết, dựa trên yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế, đồng thời phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Ngoại giao để trình Chính phủ xem xét.

Trong giai đoạn chuẩn bị, cơ quan đề xuất cần đánh giá nhu cầu và khả năng thực hiện thỏa thuận, dựa trên các yếu tố như quy mô trao đổi hàng hóa, sự tồn tại của rào cản kỹ thuật, điều kiện hạ tầng kỹ thuật và các yếu tố liên quan khác. Trên cơ sở đó, cơ quan này sẽ xây dựng hoặc phối hợp xây dựng dự thảo thỏa thuận.

Trường hợp phía đối tác đã có sẵn dự thảo, cơ quan Việt Nam cần nghiên cứu, đề xuất phương án chấp nhận, sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng dự thảo, đồng thời tổ chức lấy ý kiến các bên liên quan.

Việc ký kết phải tuân thủ pháp luật về điều ước quốc tế, và sau khi hoàn tất, cơ quan đề xuất có trách nhiệm thông báo cho phía đối tác về việc phê duyệt hoặc ký kết chính thức.

Ky_Ket_Thoa_Thuan_Lan_Nhau

3.3. Ký kết thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau ở cấp Tổ chức đánh giá sự phù hợp

Các tổ chức đánh giá sự phù hợp của Việt Nam được phép chủ động ký kết thỏa thuận với đối tác quốc tế, khu vực hoặc nước ngoài, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và năng lực của mình.

Trong quá trình đàm phán và ký kết, cần bảo đảm hài hòa lợi ích của tổ chức, các bên liên quan trong nước và lợi ích quốc gia. Tổ chức được sử dụng kết quả đánh giá từ đối tác theo thỏa thuận, nhưng phải thực hiện việc xem xét, đánh giá tính đầy đủ, phù hợp của các kết quả đó và chịu trách nhiệm về kết luận đánh giá sự phù hợp do mình đưa ra.

Lưu ý: Thỏa thuận thừa nhận giữa các tổ chức không thay thế cho quyết định chỉ định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Sau khi ký kết, tổ chức phải thông báo bằng văn bản kèm bản sao thỏa thuận đến Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, cơ quan quản lý trực tiếp (nếu có) và các Bộ, ngành có liên quan để theo dõi. Đồng thời, tổ chức hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận đã ký.

Phúc Gia và TUV

4. Các yêu cầu đối với thừa nhận đơn phương kết quả đánh giá sự phù hợp

Bên cạnh các thỏa thuận song phương, Thông tư cũng cho phép áp dụng cơ chế thừa nhận đơn phương. Theo đó, Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có thể chủ động xem xét và thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức nước ngoài trong phạm vi quản lý.

Việc thừa nhận phải bảo đảm nguyên tắc khách quan, minh bạch, không phân biệt đối xử và phù hợp với pháp luật Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế, đồng thời phải bảo đảm mức độ tin cậy và tương đương về năng lực kỹ thuật của tổ chức đánh giá sự phù hợp.

Khi đánh giá để thừa nhận, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào một số yếu tố chính như: chứng chỉ công nhận và phạm vi công nhận còn hiệu lực của tổ chức đánh giá sự phù hợp (được công nhận bởi các tổ chức thuộc hệ thống MRA/MLA như GACI, APAC hoặc tương đương); tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng; năng lực kỹ thuật, kinh nghiệm hoạt động và mức độ tin cậy của tổ chức, cùng các yếu tố kỹ thuật liên quan khác.

Trên cơ sở kết quả đánh giá, cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành quyết định thừa nhận đơn phương. Quyết định này phải nêu rõ tổ chức được thừa nhận, phạm vi và lĩnh vực áp dụng, tiêu chuẩn liên quan, thời hạn hiệu lực (nếu có) và trách nhiệm của các bên liên quan.

Việc xem xét, đánh giá và ban hành quyết định được thực hiện theo quy trình chuyên môn do Bộ quản lý ngành quy định. Đồng thời, trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý có trách nhiệm theo dõi, giám sát và có thể đình chỉ hoặc hủy bỏ việc thừa nhận nếu tổ chức không còn đáp ứng yêu cầu về năng lực kỹ thuật hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

APAC

5. Các lưu ý trong giai đoạn chuyển tiếp đối với hoạt động thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp

Thông tư số 16/2026/TT-BKHCN có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký ban hành và thay thế Thông tư số 27/2007/TT-BKHCN. Các hiệp định, thỏa thuận đã ký trước đó vẫn tiếp tục được thực hiện theo thời hạn đã xác định, nhưng không vượt quá ngày 31/12/2027.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, việc áp dụng cần bám sát phạm vi pháp lý, đặc biệt là phân biệt rõ giữa giá trị của thỏa thuận kỹ thuật và quyết định chỉ định của cơ quan nhà nước, đồng thời theo dõi hiệu lực của các quyết định thừa nhận trong từng thời kỳ. Doanh nghiệp và tổ chức kỹ thuật cần chủ động rà soát lại các thỏa thuận, chứng thư và cơ chế áp dụng hiện có để bảo đảm tính hợp lệ theo quy định mới, tránh gián đoạn hoạt động.

Về quản lý, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối, với sự hỗ trợ của Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia trong việc tổng hợp, theo dõi và điều phối. Các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu, nhằm bảo đảm việc triển khai được kiểm soát và thống nhất trên toàn hệ thống.

huong-dan-ap-dung-thong-tu-so-16-2026-tt-bkhcn

XEM THÊM CÁC BÀI VIẾT:

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

CÔNG TY CỔ PHẦN PHÒNG THỬ NGHIỆM PHÚC GIA
TRUNG TÂM CHỨNG NHẬN PHÚC GIA
TRUNG TÂM THỬ NGHIỆM KIỂM ĐỊNH PHÚC GIA

Địa chỉ:
• Miền Bắc: Cảng cạn Long Biên, Số 01 Huỳnh Tấn Phát, KCN Sài Đồng B, P. Long Biên, TP. Hà Nội
• Miền Nam: Số 180, Đường D2, P. Long Trường, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại:
• Miền Bắc: 0965.996.696/0982.996.696/024.7779.6696
• Miền Nam: 0918.996.696

E-mail: lab@phucgia.com.vn
Website: phucgia.com.vn
Thời gian làm việc: Thứ Hai đến Thứ Sáu 8:00 – 18:30; Thứ Bảy 8:00 – 12:00

Phúc Gia® – Tổ chức thử nghiệm và chứng nhận toàn diện cho thiết bị điện – điện tử

Mục lục